Thương mại điện tử (TMĐT), hay e-commerce, là hoạt động thương mại được thực hiện một phần hoặc toàn bộ trên môi trường điện tử. Hoạt động này có thể bao gồm giới thiệu hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đặt hàng, giao kết hợp đồng, thanh toán, chăm sóc khách hàng và nhiều khâu khác thông qua website, ứng dụng hoặc nền tảng số.
Hiểu đơn giản, thay vì toàn bộ hoạt động mua bán diễn ra trực tiếp tại cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh, thương mại điện tử cho phép người bán và người mua thực hiện một phần hoặc toàn bộ quá trình giao dịch trên môi trường trực tuyến.
Thương mại điện tử ngày càng trở thành một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh trên môi trường số
Khái niệm thương mại điện tử (e-commerce)
Theo Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15, hoạt động thương mại điện tử là hoạt động thương mại được tiến hành một phần hoặc toàn bộ trên môi trường điện tử.
Khái niệm này rộng hơn việc chỉ mua bán hàng hóa trên một website. Hoạt động TMĐT có thể diễn ra trên website, ứng dụng di động, mạng xã hội hoặc các nền tảng số khác nếu một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại được thực hiện trên môi trường điện tử.
Trong thực tế, thương mại điện tử có thể xuất hiện ở nhiều mô hình khác nhau: doanh nghiệp tự bán sản phẩm trên website của mình, ứng dụng đặt dịch vụ, sàn kết nối nhiều người bán hoặc các nền tảng số hỗ trợ giao dịch giữa nhiều bên.
Lợi ích của thương mại điện tử

Thương mại điện tử giúp mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng và số hóa nhiều khâu trong quá trình kinh doanh
Đối với người bán
- Mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng: doanh nghiệp có thể giới thiệu và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng ngoài khu vực kinh doanh truyền thống.
- Giảm một số chi phí vận hành: nhiều khâu giới thiệu sản phẩm, tiếp nhận đơn hàng và chăm sóc khách hàng có thể được thực hiện trực tuyến.
- Dễ đo lường hiệu quả kinh doanh: website, app và các công cụ số giúp ghi nhận dữ liệu về lượt truy cập, nhu cầu và hành vi của khách hàng.
- Có thể hoạt động liên tục: khách hàng có thể tìm hiểu sản phẩm, dịch vụ và thực hiện các thao tác trực tuyến ngoài giờ làm việc thông thường.
Đối với người mua
- Dễ tìm kiếm và so sánh: người mua có thể tham khảo nhiều sản phẩm, dịch vụ và nhà cung cấp trong thời gian ngắn.
- Thuận tiện khi đặt hàng: nhiều giao dịch có thể được thực hiện thông qua máy tính hoặc điện thoại mà không cần đến trực tiếp cửa hàng.
- Nhiều lựa chọn hơn: người mua có thể tiếp cận hàng hóa, dịch vụ từ nhiều khu vực và nhiều đơn vị kinh doanh khác nhau.
- Dễ lưu lại thông tin giao dịch: đơn hàng, lịch sử mua bán và trao đổi thường được ghi nhận trên hệ thống điện tử.
Các mô hình thương mại điện tử phổ biến: B2B, B2C, C2C, B2G
Bên cạnh cách phân loại nền tảng theo pháp luật, thương mại điện tử còn thường được phân loại theo mối quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch. Các mô hình phổ biến gồm B2B, B2C, C2C và B2G.
Mô hình thương mại điện tử B2B
B2B – Business to Business là mô hình giao dịch thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp.
Ví dụ: nhà sản xuất cung cấp hàng cho đại lý; doanh nghiệp phần mềm cung cấp hệ thống quản trị cho doanh nghiệp khác; đơn vị hạ tầng cung cấp máy chủ, dịch vụ công nghệ hoặc các giải pháp phục vụ hoạt động kinh doanh.
B2B có thể được triển khai thông qua website riêng, hệ thống đặt hàng dành cho đại lý hoặc các nền tảng kết nối doanh nghiệp.


Mô hình thương mại điện tử B2C
B2C – Business to Consumer là mô hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Đây là một trong những hình thức TMĐT phổ biến nhất. Doanh nghiệp có thể bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trực tiếp cho khách hàng cá nhân thông qua website, ứng dụng hoặc nền tảng thương mại điện tử.
Ví dụ có thể là website của một doanh nghiệp tự bán sản phẩm của mình, ứng dụng đặt dịch vụ hoặc cửa hàng trực tuyến phục vụ người tiêu dùng cuối cùng.
Mô hình thương mại điện tử C2C
C2C – Consumer to Consumer là mô hình giao dịch giữa cá nhân với cá nhân.
Các giao dịch C2C thường được thực hiện thông qua một nền tảng đóng vai trò kết nối, nơi nhiều cá nhân có thể đăng thông tin, giới thiệu hoặc bán hàng hóa cho nhau.
Nếu một nền tảng cho phép nhiều tổ chức hoặc cá nhân đăng ký tài khoản để bán hàng hay cung cấp dịch vụ trên chính nền tảng đó, chủ quản còn cần xem xét các nghĩa vụ pháp lý áp dụng đối với nền tảng TMĐT trung gian.


Mô hình thương mại điện tử B2G
B2G – Business to Government là mô hình giao dịch, cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước thông qua môi trường điện tử.
B2G là cách phân loại theo quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch. Đây không phải là một loại nền tảng thương mại điện tử riêng theo cách phân loại của Luật Thương mại điện tử hiện hành.
So sánh thương mại điện tử và thương mại truyền thống (TMTT)
Khả năng tiếp cận khách hàng
Thương mại truyền thống: phạm vi tiếp cận thường phụ thuộc nhiều vào vị trí cửa hàng, đại lý và hệ thống phân phối.
Thương mại điện tử: doanh nghiệp có thể tiếp cận khách hàng trên phạm vi rộng hơn thông qua website, ứng dụng, công cụ tìm kiếm, mạng xã hội và quảng cáo trực tuyến.
Thời gian giao dịch
Thương mại truyền thống: người mua thường phải đến địa điểm kinh doanh và giao dịch phụ thuộc nhiều vào thời gian hoạt động của cửa hàng.
Thương mại điện tử: khách hàng có thể tìm hiểu sản phẩm, dịch vụ và thực hiện nhiều thao tác trực tuyến bất cứ lúc nào nếu nền tảng hỗ trợ.
Chất lượng sản phẩm
Thương mại truyền thống: khách hàng thường có khả năng trực tiếp xem, thử hoặc kiểm tra hàng hóa trước khi quyết định mua.
Thương mại điện tử: người mua chủ yếu đánh giá thông qua hình ảnh, mô tả, thông tin sản phẩm, đánh giá của khách hàng khác và chính sách của người bán hoặc nền tảng.
Tính đa dạng của hàng hóa, sản phẩm
Thương mại truyền thống: số lượng hàng hóa và nhà cung cấp có thể bị giới hạn bởi diện tích cửa hàng, kho hàng và khu vực phân phối.
Thương mại điện tử: người mua có thể tiếp cận nhiều sản phẩm, dịch vụ và nhà cung cấp hơn, đặc biệt trên các nền tảng có nhiều bên cùng tham gia kinh doanh.
Cập nhật 2026: 4 loại nền tảng thương mại điện tử theo Luật Thương mại điện tử 2025
Từ ngày 01/07/2026, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 có hiệu lực. Luật phân loại nền tảng thương mại điện tử thành 4 nhóm: nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp, nền tảng TMĐT trung gian, mạng xã hội hoạt động TMĐT và nền tảng TMĐT tích hợp.
Cách phân loại này khác với B2B, B2C, C2C hay B2G. B2B/B2C/C2C/B2G mô tả quan hệ giữa các bên giao dịch; còn 4 nhóm dưới đây được dùng để xác định loại nền tảng và trách nhiệm pháp lý của chủ quản.
1. Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp
Là nền tảng do tổ chức hoặc cá nhân thiết lập để trực tiếp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của chính mình.
Ví dụ: doanh nghiệp tự xây website để bán sản phẩm của doanh nghiệp; trung tâm đào tạo nhận đăng ký khóa học trên website; đơn vị dịch vụ xây app để khách hàng đặt dịch vụ của chính đơn vị.
Nếu nền tảng kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến thì chủ quản thực hiện thủ tục Thông báo theo quy định.
2. Nền tảng TMĐT trung gian
Là nền tảng cho phép tổ chức hoặc cá nhân khác đăng ký tài khoản để giới thiệu, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên chính nền tảng đó.
Ví dụ: website hoặc app cho nhiều người bán tham gia, mở gian hàng, đăng tin hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua nền tảng.
Nhóm này thuộc diện thực hiện thủ tục Đăng ký và phải đáp ứng các điều kiện quản lý, vận hành theo quy định.
3. Mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử
Là mạng xã hội có tích hợp các chức năng phục vụ hoạt động thương mại điện tử theo quy định, chẳng hạn chức năng hỗ trợ giao tiếp, đặt hàng hoặc livestream bán hàng phục vụ việc giao kết và thực hiện giao dịch.
Không phải cứ có nội dung bán hàng trên Internet thì một website hoặc app thông thường trở thành mạng xã hội hoạt động TMĐT. Việc phân loại phải căn cứ vào mô hình và chức năng thực tế của nền tảng.
4. Nền tảng TMĐT tích hợp
Là nền tảng cho phép tích hợp các nền tảng thương mại điện tử khác trên chính nền tảng đó.
Đây là nhóm được quy định nhằm bao quát các hệ sinh thái số có nhiều nền tảng hoặc dịch vụ thương mại điện tử được tích hợp và vận hành trong cùng một hệ thống.

Sơ đồ phân loại 4 loại nền tảng thương mại điện tử theo Luật Thương mại điện tử hiện hành
Chức năng đặt hàng trực tuyến là gì?
Luật Thương mại điện tử 2025 định nghĩa chức năng đặt hàng trực tuyến là chức năng của nền tảng thương mại điện tử cho phép thực hiện việc giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng đó.
Vì vậy, khi xác định một website hoặc ứng dụng kinh doanh trực tiếp có thuộc diện phải Thông báo hay không, không nên chỉ nhìn vào việc có thanh toán online. Cần xem toàn bộ quy trình thực tế có cho phép khách hàng gửi đơn, đặt sản phẩm, đăng ký dịch vụ hoặc thực hiện việc giao kết hợp đồng điện tử trên nền tảng hay không.
Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng khi xác định nghĩa vụ đối với website/app bán hàng của chính doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh.
Website, app thương mại điện tử khi nào phải Thông báo hoặc Đăng ký?
Không phải mọi website hoặc ứng dụng có nội dung kinh doanh đều áp dụng cùng một thủ tục. Cần căn cứ vào mô hình hoạt động và chức năng thực tế của nền tảng.
Trường hợp thường thuộc nhóm Thông báo
Website/app do chính doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh sở hữu, dùng để bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ của chính đơn vị và có chức năng đặt hàng hoặc đăng ký dịch vụ trực tuyến.
Đây là cách phân loại đang được ZIC áp dụng thống nhất tại các trang dịch vụ:
Trường hợp thường thuộc nhóm Đăng ký
Website/app cho tổ chức hoặc cá nhân khác tham gia kinh doanh, chẳng hạn đăng bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, mở gian hàng, đăng tin hoặc hoạt động theo mô hình sàn/nền tảng TMĐT trung gian.
Các trang dịch vụ tương ứng:
Không nên chỉ nhìn một chi tiết như có nút “Mua ngay”, có thanh toán trực tuyến hay không. Cần xem toàn bộ mô hình: ai là người bán, hàng hóa/dịch vụ thuộc về ai, có cho bên khác tham gia kinh doanh hay không và nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến hay không.
Không biết website/app của bạn thuộc loại nào?
Gửi link website hoặc thông tin ứng dụng để ZIC TMĐT kiểm tra mô hình và tư vấn loại thủ tục phù hợp.
Chat qua Zalo Gọi tư vấn miễn phíCăn cứ pháp lý đang áp dụng
- Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
- Nghị định 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Do hệ thống pháp luật về thương mại điện tử đã thay đổi từ ngày 01/07/2026, các tài liệu cũ dựa trên Nghị định 52/2013/NĐ-CP và các quy định trước đây cần được đối chiếu với pháp luật hiện hành khi áp dụng.
Câu hỏi thường gặp về thương mại điện tử
Thương mại điện tử là hoạt động thương mại được tiến hành một phần hoặc toàn bộ trên môi trường điện tử.
Đây là cách phân loại thương mại điện tử theo quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch: B2B là doanh nghiệp với doanh nghiệp; B2C là doanh nghiệp với người tiêu dùng; C2C là cá nhân với cá nhân; B2G là doanh nghiệp với cơ quan nhà nước.
Không. Đây là cách phân loại theo quan hệ giao dịch. Luật Thương mại điện tử 2025 phân loại nền tảng thành nền tảng kinh doanh trực tiếp, nền tảng trung gian, mạng xã hội hoạt động TMĐT và nền tảng TMĐT tích hợp.
Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp có chức năng đặt hàng trực tuyến thuộc trường hợp thực hiện thủ tục Thông báo theo quy định hiện hành. Cần xem chức năng thực tế của website/app để xác định chính xác.
Nếu nền tảng cho tổ chức hoặc cá nhân khác đăng ký tài khoản để giới thiệu, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên chính nền tảng đó thì có thể thuộc nhóm nền tảng TMĐT trung gian và phải thực hiện thủ tục Đăng ký theo quy định.
Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định 248/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.





